Thực trạng xuất khẩu của các mặt hàng gạo, thủy sản, dệt may, da giày cũng chính là thực trạng hoạt động xuất khẩu chung của cả nước: tốc độ tăng trưởng bấp bênh, chất lượng tăng trưởng chưa cao, giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu còn thấp, cơ cấu ngành hàng, thị trường, giá cả thiếu ổn định, dễ bị rủi ro, tăng trưởng chủ yếu dựa vào khu vực FDI,… Những hạn chế, bất cập này nếu không nhanh chóng được khắc phục, thì cho dù quy mô xuất khẩu hàng tỷ USD nhưng hiệu quả vẫn ở mức rất thấp. Tăng trưởng đến ngưỡng?
 |
| Xây dựng tiêu chuẩn và quy chuẩn các mặt hàng nông, lâm, thủy sản |
Gạo, thủy sản, dệt may, da giày luôn là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với quy mô xuất khẩu hằng năm lên đến hàng tỷ USD. Tuy nhiên, gần đây, kim ngạch xuất khẩu của những mặt hàng này đang có xu hướng chững lại hoặc sụt giảm, đã góp phần kéo kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nói chung đi xuống. Bảy tháng năm nay, kim ngạch xuất khẩu của cả nước ước tính đạt 96,83 tỷ USD, chỉ tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng trưởng này thấp hơn mức 9,5% cùng kỳ năm 2015, đe dọa khả năng hoàn thành mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 10% của cả năm 2016.
Nhìn lại giai đoạn 2011 - 2015, mặc dù tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khá cao, bình quân 17,5%/năm nhưng nếu phân tích số liệu từng năm do Tổng cục Thống kê công bố có thể thấy, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu giảm theo từng năm. Năm 2011, tăng trưởng xuất khẩu ở mức 34,2%; năm 2012, giảm xuống 18,2%, năm 2013 còn 15,3%, năm 2014 chưa đầy 14% và năm 2015 rớt xuống 8,1%, thấp nhất trong vòng 5 năm qua. Vụ trưởng Thống kê thương mại dịch vụ (Tổng cục Thống kê) Lê Thị Minh Thủy cho rằng, trong mấy năm vừa qua, với quy mô xuất khẩu ngày càng lớn, đòi hỏi tăng trưởng một điểm phần trăm so với kim ngạch xuất khẩu là không hề dễ. Vì thế, tăng trưởng xuất khẩu chậm lại tuy chưa thật sự đáng lo ngại nhưng cũng là dấu hiệu cảnh báo hoạt động xuất khẩu trong thời gian tới ngày càng khó khăn khi việc mở rộng thị trường, gia tăng kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng đã đến ngưỡng.
Không thể phủ nhận, một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến kim ngạch xuất khẩu những năm gần đây sụt giảm là do giá xuất khẩu giảm mạnh. Năm 2015, chỉ số giá xuất khẩu nhiều mặt hàng chủ lực thấp hơn năm 2014 như dầu thô giảm 14%; gạo giảm 8,1%; thủy sản giảm 2,5%; cà-phê giảm 6,4%,... Bảy tháng năm nay, giá xuất khẩu tiếp tục đà suy giảm, nhất là nhóm hàng nông - thủy sản, công nghiệp chế biến. Song, không chỉ do giá giảm, kim ngạch nhiều mặt hàng giảm cũng do cả lượng giảm, như bảy tháng qua, kim ngạch xuất khẩu gạo giảm 12,2% (lượng giảm 16,4%); dầu thô giảm 44,5% (lượng giảm 21,8%); than đá giảm 72,8% (lượng giảm 70,8%),... Xuất khẩu nhiên liệu, khoáng sản giảm dần là phù hợp định hướng chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ năm 2011 - 2020, nhưng cũng cho thấy tăng trưởng xuất khẩu nói chung vẫn dựa nhiều vào khai thác tài nguyên, một khi kim ngạch xuất khẩu than đá, dầu thô sụt giảm, lập tức kéo theo kim ngạch xuất khẩu nói chung giảm.
Trong nhiều năm gần đây, cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu của nước ta không thay đổi bao nhiêu. Nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản vẫn chiếm khoảng 45% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Trong đó, đáng chú ý là mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện; điện tử, máy tính và linh kiện chiếm tỷ trọng lớn. Bảy tháng qua, kim ngạch xuất khẩu của riêng nhóm điện thoại và linh kiện ước tính đạt hơn 19,4 tỷ USD, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước, gấp gần ba lần tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nói chung và chiếm tỷ trọng hơn 20%. “Đáng buồn, đây là mặt hàng chủ yếu lắp ráp cho nên giá trị gia tăng thấp. Ngược lại, nhóm hàng nông, lâm, thủy sản chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu (chưa đến 15%), trong khi nếu được đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tạo việc làm, thu nhập cho nhiều nông dân, trực tiếp cải thiện đời sống khu vực nông thôn”, Vụ trưởng Lê Thị Minh Thủy phân tích.
TS Vũ Đình Ánh, chuyên gia kinh tế nhận xét, đối với nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu vẫn là gia công, lắp ráp. Nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản mới chỉ dừng lại ở xuất khẩu thô, chưa đầu tư công nghệ chế biến sâu. Còn nhóm hàng nông, lâm, thủy sản tuy có thặng dư thương mại, số lượng các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu hơn một tỷ USD tăng, nhưng nhược điểm lớn nhất là bị tác động rất lớn từ thị trường thế giới, dễ bị rủi ro, thị trường xuất khẩu thiếu ổn định cả về giá và lượng,… Lấy dẫn chứng mặt hàng gạo, TS Lê Đình Ân, nguyên Giám đốc Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế xã hội quốc gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đánh giá, Việt Nam là một trong những nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, nhưng gạo của chúng ta chất lượng thấp cho nên tính cạnh tranh chưa cao. Đây cũng chính là lý do khiến Việt Nam không thể chi phối thị trường gạo thế giới, không có vai trò, tiếng nói trong điều tiết thị trường này. Nhiều doanh nghiệp (DN) xuất khẩu gạo trong nước thiếu sự liên kết để tạo sức mạnh chung, ngược lại còn cạnh tranh bán phá giá, gây thua thiệt cho chính mình. Hay với mặt hàng dệt may, da giày, tỷ lệ gia công vẫn còn cao, lại phụ thuộc phần lớn vào nhập khẩu nguyên phụ liệu nước ngoài dẫn đến hiệu quả xuất khẩu thấp. Bản thân DN trong nước vẫn thích làm gia công hơn do ít chịu rủi ro cho nên càng khó nâng giá trị gia tăng cho mặt hàng này.
Một thực tế đáng lo ngại khác là nhiều năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu của cả nước tăng cao chủ yếu ở khu vực có vốn FDI với nhiều mặt hàng gia công, lắp ráp như điện tử, máy tính và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện; dệt may; giày dép,… Xuất khẩu của khu vực này luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao hơn khu vực trong nước và đóng góp chủ yếu cho tăng trưởng xuất khẩu, tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI (không kể dầu thô) trong tổng kim ngạch xuất khẩu tăng từ 49,4% năm 2011 lên 69,76% năm 2015. Bảy tháng qua, tỷ trọng này đã lên tới hơn 70%. Tăng trưởng xuất khẩu phụ thuộc quá lớn vào khu vực FDI đã khiến không ít chuyên gia kinh tế lo ngại. TS Lê Đình Ân cho rằng, sự phụ thuộc này sẽ dẫn đến nhiều rủi ro, chẳng hạn chỉ cần khối FDI gặp khó khăn, lập tức tăng trưởng xuất khẩu sẽ bị tác động ngay. Chưa kể, hiệu quả xuất khẩu của khu vực FDI cũng cần được xem xét lại khi phần lớn sản phẩm xuất khẩu là gia công, lắp ráp. Dù xuất khẩu thu được ngoại tệ lớn nhưng nếu công nghiệp hỗ trợ trong nước chưa phát triển, vấn đề chuyển giá chưa được kiểm soát chặt chẽ thì Việt Nam khó có thể hưởng lợi được nhiều.
Nâng cấp sản phẩm xuất khẩu
Không tỏ ra quá lo lắng trước xu hướng xuất khẩu của khu vực FDI tăng mạnh, TS Vũ Đình Ánh nhận định: Ngay từ khi chúng ta thu hút FDI, đã đặt ra mục tiêu là xuất khẩu. Các DN nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam đều xác định hướng tới xuất khẩu. Gần đây, Việt Nam chủ trương khuyến khích thu hút đầu tư của các tập đoàn, công ty xuyên quốc gia mà những tập đoàn, công ty này đều coi Việt Nam như một “cứ địa” sản xuất cho toàn cầu. Hiện tượng khu vực FDI chiếm khoảng 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam là bình thường, phù hợp định hướng thu hút FDI của chúng ta và phù hợp xu hướng chuyển dịch dòng vốn FDI vào Việt Nam như một trung tâm sản xuất trên thế giới. Tuy nhiên, nước ta định hướng nền kinh tế theo hướng xuất khẩu, vì thế, theo TS Vũ Đình Ánh, định hướng này không chỉ thể hiện tốt ở khu vực FDI mà còn cần thể hiện tốt cả ở khu vực trong nước. Do đó, việc cấp bách cần làm là nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN xuất khẩu trong nước; phát triển công nghiệp hỗ trợ để làm sao trong kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI có sự tham gia đóng góp ngày càng nhiều của các DN Việt Nam. DN trong nước cần tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu và tăng tỷ lệ nội địa hóa trong các sản phẩm xuất khẩu.
Trong bối cảnh nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới với rất nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) được ký, đã và sẽ có hiệu lực, DN xuất khẩu trong nước nếu không nhanh chóng chủ động vươn lên, hình thành những tập đoàn, DN mạnh, đủ sức cạnh tranh thì sân chơi của Việt Nam (các chính sách, lợi thế…) sẽ được các DN FDI tận dụng và phát huy, nguy cơ DN trong nước ngày càng bị lấn át đã hiển hiện. Bản chất cơ bản nhất của các FTA chính là không còn hàng rào thuế quan, tức là hỗ trợ hoạt động xuất khẩu, bỏ qua sự cạnh tranh về giá. Trong khi đó, DN xuất khẩu của Việt Nam lại chưa có công cụ cạnh tranh nào khác ngoài cạnh tranh về giá. “Đáng lẽ thời gian qua, DN Việt Nam phải vượt qua được giai đoạn cạnh tranh về giá, tiến lên cạnh tranh bằng các yếu tố phi giá như chất lượng sản phẩm, khả năng cung ứng hàng hóa, khả năng chiếm lĩnh thị trường,… và cao hơn nữa là làm giá. Đáng tiếc, trong thang bậc cạnh tranh này, phần lớn DN của chúng ta vẫn loay hoay ở nấc thang thấp nhất”, TS Vũ Đình Ánh nói. Chưa kể, những năm gần đây, chi phí tiền lương liên tục tăng, chi phí vay vốn tăng cao,… khiến những yếu tố tạo thuận lợi cho cạnh tranh về giá không còn. Đơn hàng xuất khẩu của nhiều DN dệt may, da giày trong nước đang bị đối tác nước ngoài chuyển một phần sang Băng-la-đét, Cam-pu-chia, nơi có chi phí nhân công rẻ hơn là một dẫn chứng rõ nhất về việc DN trong nước đang mất dần lợi thế về giá rẻ. Mô hình tăng trưởng xuất khẩu dựa vào lợi thế cạnh tranh về giá đang ngày càng không phù hợp, đòi hỏi cấp bách phải thay đổi bằng cách tạo ra các lợi thế cạnh tranh động như năng suất lao động, trình độ khoa học công nghệ…
 |
| Tem chống hàng giả SMS |
PGS, TS Vũ Trí Dũng, giảng viên Trường đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội phân tích: Giai đoạn đầu, DN trong nước đi vào những thị trường cấp thấp, có thể đạt quy mô xuất khẩu lớn nhờ lợi thế về giá nhưng chắc chắn lợi nhuận đem lại cho DN không cao. Hiện nhiều đối thủ cạnh tranh về giá rẻ đang nổi lên, vì vậy, để cạnh tranh về giá, cải thiện lợi nhuận, cách duy nhất là DN phải tiết kiệm chi phí từ khâu sản xuất đến xuất khẩu, áp dụng mô hình quản trị DN tiên tiến,... Song, về lâu dài, DN Việt Nam cần nâng cấp sản phẩm xuất khẩu, chuyển từ sản phẩm cấp thấp sang cấp cao, đưa yếu tố quản lý chất lượng lên hàng đầu. Với các FTA, hàng rào thuế quan được gỡ bỏ nhưng nhiều hàng rào phi thuế quan được đặt ra, trong đó có những tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường, trách nhiệm xã hội,… Do đó, sản phẩm xuất khẩu ngoài bảo đảm chất lượng tốt, còn phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn này mới có thể đi vào những thị trường cấp cao. Muốn vậy, DN cần chú trọng đầu tư công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động, phát triển mô hình sản xuất tập trung theo chuỗi từ sản xuất, chế biến, bảo quản đến xuất khẩu…
Bên cạnh nỗ lực của DN xuất khẩu, vai trò của Nhà nước có ý nghĩa sống còn trong việc hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho DN. Việc ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư công nghiệp hỗ trợ hay tổ chức lại sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng đưa khoa học - công nghệ mới vào sản xuất, xây dựng tiêu chuẩn và quy chuẩn các mặt hàng nông, lâm, thủy sản xuất khẩu để nâng cao chất lượng và bảo vệ uy tín, thương hiệu hàng hóa Việt Nam,… sẽ tạo động lực thúc đẩy các DN trong nước tiếp cận thị trường cấp cao, nâng cao hiệu quả xuất khẩu.
(*) Xem Báo Nhân Dân từ số ra ngày 2-8-2016.
Để nâng cao hiệu quả xuất khẩu, cần tiếp cận theo giá trị chuỗi, tức là cải thiện ngay từ khâu đầu vào của xuất khẩu bằng cách tăng cường đầu tư khoa học - công nghệ. Lợi thế so sánh của DN Việt Nam trước đây đang mất dần; cần tạo ra lợi thế cạnh tranh mới bằng nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo thương hiệu sản phẩm,… Với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực hiện nay, nên tập trung nâng tầm thương hiệu, cải tiến mẫu mã và đa dạng sản phẩm đồng thời dự báo chính xác những biến động nhu cầu thế giới để kịp thời, linh hoạt điều chỉnh theo tín hiệu thị trường.
TS LÊ HUY KHÔI
Viện Nghiên cứu Thương mại - Bộ Công thương
Bài, ảnh: HÀ TUYẾT và ANH BÌNH
Sưu tầm bởi: Tân Hoa Mai